Cộng tác đa người dùng thời gian thực với liên kết chia sẻ để chuyển thông tin ngay lập tức
Tạo đồ họa tự động từ văn bản với cải tiến phong cách
Chủ đề dựng sẵn với tùy chỉnh đầy đủ
Hỗ trợ biểu tượng, hình ảnh, nhãn, công thức LaTeX, khối mã, liên kết, tệp đính kèm
Xuất: PNG, VISIO, PDF, SVG | Nhập: VISIO, Mermaid
Lưu trữ đám mây thời gian thực, đồng bộ đa thiết bị, lịch sử phiên bản và bảo mật dữ liệu
Sơ đồ kiến trúc hệ thống là một khái niệm khá mơ hồ. Theo nghĩa hẹp, nó là một trong chín loại sơ đồ kiến trúc, mô tả các thành phần, mô-đun, hệ thống con khác nhau của hệ thống, cũng như các tương tác và phương thức giao tiếp của chúng, thiên về thành phần vật lý và phương thức triển khai của hệ thống. Theo nghĩa rộng, sơ đồ kiến trúc hệ thống có thể đề cập đến bất kỳ sơ đồ kiến trúc nào của một hệ thống cụ thể, chẳng hạn như sơ đồ kiến trúc sản phẩm hệ thống CMS, thực tế thuộc loại sơ đồ kiến trúc sản phẩm. Sơ đồ kiến trúc kỹ thuật cho hệ thống đặt và hoàn vé tàu thuộc loại sơ đồ kiến trúc kỹ thuật. Trang này đặc biệt đề cập đến nghĩa hẹp của sơ đồ kiến trúc hệ thống.
Sự khác biệt cốt lõi giữa kiến trúc ứng dụng và kiến trúc hệ thống nằm ở phạm vi trọng tâm và cấp độ thiết kế. Sơ đồ kiến trúc ứng dụng tập trung vào việc phân chia các mô-đun trong ứng dụng, phương thức tương tác, luồng dữ liệu, v.v., thiên về việc triển khai các chức năng và logic phần mềm. Ngược lại, sơ đồ kiến trúc hệ thống mang tính vĩ mô hơn, tập trung vào cấu trúc tổng thể của hệ thống, mối quan hệ giữa các hệ thống con khác nhau, triển khai phần cứng và phần mềm, v.v., thiên về thành phần vật lý và phương pháp triển khai của hệ thống.
So với kiến trúc kỹ thuật, kiến trúc hệ thống là mô tả cấp cao về 'cần làm gì' và 'làm như thế nào', trong khi kiến trúc kỹ thuật là mô tả triển khai kỹ thuật chi tiết hơn về 'làm như thế nào'. Nếu kiến trúc hệ thống tương tự như quy hoạch của thành phố Thâm Quyến, thì kiến trúc kỹ thuật là quy hoạch của quận Nam Sơn.
Sơ đồ kiến trúc hệ thống hiển thị cấu trúc tổng thể của hệ thống, bao gồm các thành phần chính, mô-đun, mối quan hệ giữa các dịch vụ, luồng dữ liệu và phương thức giao tiếp, cũng như môi trường triển khai hệ thống.
Bằng cách sử dụng các mũi tên và chú thích để chỉ rõ hướng luồng dữ liệu, các giao thức truyền thông (như HTTP, RPC, hàng đợi tin nhắn) và liệu nó có đồng bộ hay không đồng bộ, sơ đồ sẽ dễ đọc và chính xác hơn.
Điều này phụ thuộc vào tình hình thực tế. Nếu tập trung vào môi trường vận hành, phân bổ nút, phục hồi sau thảm họa và khả năng mở rộng của hệ thống, thì cần có kiến trúc triển khai. Nếu không, có thể vẽ một sơ đồ triển khai riêng.
Cần đánh dấu ngăn xếp công nghệ chính (như cơ sở dữ liệu, phần mềm trung gian, bộ nhớ đệm, khung dịch vụ) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi các giải pháp kỹ thuật và lập kế hoạch.
Bằng cách đánh dấu bộ cân bằng tải, nút dự phòng, kiến trúc cụm, cơ chế chuyển đổi dự phòng, v.v., để thể hiện thiết kế ổn định và đàn hồi của hệ thống.
Nên bao gồm các thành phần liên quan đến bảo mật, chẳng hạn như xác thực danh tính, quản lý truy cập, tường lửa, mã hóa dữ liệu, v.v., để làm nổi bật tính bảo mật của hệ thống.